Tam Sinh Tam Thế Chẩm Thượng Thư – Chương 25

Đăng bởi Nguyễn Trà My

01.

Nơi cao nhất trong phủ công chúa là Ba Tâm đình, bên ngoài đình trồng toàn cổ thụ, cây nào cây nấy cao chọc trời, ánh nắng xuyên qua lá cây, chiếu vào trong đình, tô điểm thêm nét cổ kính cho ngôi đình nhỏ.

Lúc này trong sơn đình có bốn người, Đông Hoa Đế Quân ngồi đối diện với Thần Quan Trưởng Trầm Diệp, Phượng Cửu đang say ngủ trong lòng Đế Quân, Tô Mạch Diệp đứng bên cạnh. Thiên thời địa lợi nhân hòa, bình tâm mà nói thì đây thực sự là một bức tranh đẹp.

Nhưng Tô nhị hoàng tử Tô Mạch Diệp nhìn cục diện trước mắt, thực sự lại có chút mơ hồ, bởi vì hai vị đang ngồi đối diện với nhau phía trước mặt đều là những người vô cùng điềm tĩnh, chàng mặc dù rất giỏi quan sát sắc mặt, lời nói, nhưng gần đây chàng bị Đế Quân bắt chế tạo pháp khí, đầu óc mệt mỏi đến nỗi có phần kém linh hoạt, hơn nữa những sự việc xảy ra trong ba ngày gần đây như chớp giật liên hồi, giật đến nỗi tới bây giờ chàng vẫn chưa thể bình tâm được.

Ba ngày trước là một ngày Hoàng đạo, ông trời đã rủ lòng từ bi khiến bức thư khẩn thứ mười hai mà chàng gửi cho Đế Quân có tác dụng, gọi được Đế Quân trở về Kỳ Nam thần cung. Chàng thúc giục Đế Quân đến nỗi muốn ộc máu tươi, may mà Đế Quân đã trở về, chàng liền nuốt cục máu đó vào trong bụng, hy vọng rằng sau khi pháp khí chế tạo xong có thể xuống núi nghỉ ngơi một chút.

Thực ra Đế Quân chưa từng nói rõ với chàng ngài muốn chế tạo pháp khí gì, với bổn phận là thần tử, chàng cũng chưa từng hỏi, chỉ làm theo lời dặn dò của Đế Quân mà thôi. Đợi đến khi Đế Quân quay về thần cung thực hiện nốt khâu chế tạo cuối cùng, khi thành hình rồi chàng mới biết rằng đó là một tấm gương, hơn nữa là một tấm gương rất khác thường – gương Diệu Hoa.

Chàng đã từng được nghe nói về tấm gương Diệu Hoa được treo ở Đệ Thất Thiên trên Cửu Trùng Thiên, đồn rằng, tấm gương này có thể tái hiện sự thay triều đổi đại, sự thịnh suy trong hàng trăm tỷ phàm thế của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, nhưng Phạn Âm Cốc nơi mà bộ tộc Tỷ Dực Điểu cư ngụ cũng là đất tiên, không phải là phàm thế, xét về lý, gương Diệu Hoa sẽ không thể soi rõ được những chuyện thị phi trong quá khứ. Chàng có phần nghi hoặc, nếu không có công dụng này, vậy Đế Quân nhọc công chế tạo chiếc gương này để làm gì. Chàng nghĩ, chắc không phải để làm gương trang điểm cho Phượng Cửu đấy chứ… Lại nghĩ, ôi mẹ ơi, thực ra việc này rất có khả năng xảy ra.

May mà lần này Đế Quân lại không khác thường tới mức độ đó, khi chiếc gương được chế tác xong, Đế Quân ngắm nghía trong giây lát, rồi dùng bút tiện tay vẽ gì đó trên giấy, sau đó ném vào trong gương, chỉ một lát sau, trong gương hiện lên một cảnh tượng rất rõ ràng.

Cảnh tượng trong gương khiến chàng đờ đẫn, đó chính là xà trận bên suối Giải Ưu hơn hai trăm năm trước. Trong làn mưa giông gió buốt, bốn con mãng xà khổng lồ rắn chắc như đá tảng ngóc đầu lên trời phun phù phù với đôi mắt đỏ ngàu như máu, ngập tràn nỗi đau thương khi bị mất con. Cô bé đang được chàng ôm trong lòng vươn cánh tay ra giãy giụa đòi quay lại xà trận, nước mắt ngân ngấn trong đôi mắt sáng long lanh, miệng cũng thổi phì phì nói xà ngữ. Chàng đứng trên một đám mây, cây tiêu ngọc bích lơ lửng giữa không trung, không có người thổi nhưng lại phát ra những tiếng nhạc xua đuổi loài rắn. Cô bé vẫn quẫy đạp phản kháng trong vòng tay của chàng, chàng vốn dĩ có thể dùng pháp thuật để giữ chặt cô bé lại, nhưng không hiểu lúc đó chàng đã nghĩ gì, lại chỉ dùng sức mạnh của đôi tay để khóa chặt cô bé thích núp sau tảng đá nghe chàng thổi tiêu vào lòng. Cô bé không có cách nào thoát ra được, nước mắt chực rơi xuống, chàng vuốt trán của cô bé, khẽ nói: “Ngươi rất thông minh, mặc dù không biết nói, nhưng chắc cũng hiểu được ta đang nói gì, ngươi không phải là rắn, ngươi là nhị công chúa của tộc Tỷ Dực Điểu. Ngươi muốn tiếp tục làm một con rắn, sống ở một nơi chật hẹp, bị người cùng dòng tộc coi là dị vật hay là muốn được giang rộng đôi cánh bay lượn khắp bầu trời?”. Nước mắt đọng lại trong đôi mắt của cô bé, hồi lâu, cô bé cắn môi, dường như đang chịu đựng một nỗi đau vô bờ bến nào đó, tiếng giương cánh vang lên, một đôi cánh trắng muốt bỗng xuất hiện phía sau vai, cô bé bắt chước giọng nói của chàng: “… Tỷ Dực…”. Chàng cười nói: “Ngoan, đây là lần đầu tiên ngươi giương cánh sao? Từ nay về sau, ta sẽ là sư phụ của ngươi”.

Tỷ Dực Điểu hoặc là có một cánh, hoặc là có hai cánh, A Lan Nhược là Tỷ Dực Điểu hai cánh.

Cảnh tượng của rất nhiều năm về trước được tái hiện lại ngay trước mắt, chàng đương nhiên sững sờ, Đế Quân đã pha xong một ấm trà, chìa vào hai chén, thuận miệng nói với chàng: “Chiếc gương này đã được ta sửa lại, có thể nhìn thấy kiếp này, kiếp trước ở đất tiên”. Nhìn về phía gương Diệu Hoa, nói: “Người tạo ra mộng cảnh này chắc là Trầm Diệp, hãy xem xem hắn muốn làm gì đã, sau đó xem xem Tiểu Bạch và A Lan Nhược có mối liên hệ như thế nào, ngươi hãy ở lại đây cùng quan sát, sau này nếu xảy ra chuyện gì, còn tiện thay ta xử lý”.

Chàng nhất thời không để ý rằng Đế Quân cho phép chàng ở lại đây chính là vì muốn chàng tiếp tục làm việc không công cho ngài ấy, đầu óc bỗng chốc trở nên mông lung, giọng nói có phần run rẩy: “Ý Đế Tọa là qua chiếc gương này có thể nhìn thấy nguyên nhân dẫn tới cái chết của A Lan Nhược?”.

Đế Quân cảm thấy khó hiểu, nói: “Chuyện này rất kỳ lạ sao?”.

Chàng trấn tĩnh lại, nói: “Thần không hề biết trên thế gian còn có loại pháp khí có thể tái hiện kiếp này, kiếp trước của thần tiên, quả nhiên là rất hiếm có”. Lại nói: “Nghe nói gương Diệu Hoa mỗi lần chỉ có thể thể hiện một mặt của sự việc, xin được thỉnh giáo Đế Tọa, cảnh tượng quá khứ hiện ra lúc này liệu có phải chính là một mặt mà Trầm Diệp đã được chứng kiến không?”.

Đế Quân lạnh lùng gật đầu, tay rót trà, miệng nhắc nhở chàng: “Đừng chạm tay vào khung gương, cẩn thận kẻo bị tư tưởng tình cảm của người trong gương làm rối loạn tâm thần của chính mình”. Nhưng lời nhắc nhở đó lại vang lên một cách quá thong thả chậm rãi, chàng đã sớm hiếu kỳ chạm tay vào khung gương rồi. Chỉ trong nháy mắt, một tâm tư trĩu nặng như đá núi truyền từ khung gương qua cánh tay, xộc thẳng vào tận đáy trái tim chàng. Giống như đã tự mình trải qua một đời người chỉ trong chốc lát. Cuộc đời của người khác. Cuộc đời của Trầm Diệp.

Mạch thiếu gia còn nhớ, nhiều năm trước, A Lan Nhược từng nói với chàng, lần đầu tiên gặp Trầm Diệp là vài ngày trước một lần sinh thần tròn chục tuổi của chàng ta. Hồi đó nàng vừa mới ra khỏi xà trận chưa lâu, mặc dù có sự quan tâm chăm sóc của sư phụ là chàng, nhưng vẫn khó tránh khỏi cảm giác cô độc trong vương cung rộng lớn, nhìn thấy ai cũng muốn kết thân.

Hôm đó nàng đi dạo trong hoa viên, từ phía sau một gốc hạnh già, nàng nhìn thấy trong khóm hoa phía trước mặt, Trầm Diệp đang dẫn theo hai chị em Quất Nặc và Thường Đệ cùng chơi trò đoán bách thảo. Vị biểu ca này của nàng vốn dĩ đã có ngoại hình khôi ngô tuấn tú, ngày hôm đó có lẽ là do ánh nắng mặt trời rực rỡ chiếu soi, nhìn chàng lại càng tuấn tú phi phàm khiến nàng cực kỳ muốn kết thân.

Vài ngày nữa là tới sinh thần của chàng, nàng cảm thấy đây là một cơ hội tốt để kết thân với chàng, nàng cần phải tới chúc mừng. Nàng nhớ tới phong thái của chàng khi đứng trong khóm hoa thanh nhã ngày hôm đó, vốn định tới hoa viên hái một vốc làm quà chúc mừng, không ngờ loài hoa đó có mùa hoa rất ngắn, đã rụng hết rồi. Nàng bèn vẽ lại một cách ngờ nghệch khóm hoa trên trang giấy dựa theo trí nhớ mơ hồ của mình, trân trọng mang nó tới phủ của cữu cữu (anh, em trai của mẹ) để chúc mừng chàng. Trong ngày sinh thần hôm đó, chàng không vận thường phục giống như hôm ở trong hoa viên, bộ trang phục của thần quan trên người thể hiện rõ vẻ tuấn tú trầm tĩnh già dặn hơn tuổi. Chàng vẫn ở bên cạnh Quất Nặc và Thường Đệ, chỉ đưa mắt liếc nhìn nàng một cái từ xa rồi ngay sau đó lạnh lùng nhìn sang chỗ khác.

Buổi chiều, nàng tìm thấy bức tranh mà mình tặng chàng trong rãnh nước nhỏ ở hậu viện, mực vẽ đã bị nhòe đến nỗi không còn nhận ra đường nét trước đó nữa, Thường Đệ – tiểu muội muội của nàng đứng bên cạnh rãnh nước nhạo báng nàng: “Trầm Diệp ca ca nói rằng ngươi được rắn nuôi lớn, gặm cây cỏ để trưởng thành, vô cùng bẩn thỉu, huynh ấy không thèm nhận tranh của ngươi…”.

Hồi đó nàng kể lại chuyện này cho chàng nghe, cười nói, hồi nhỏ nàng và Trầm Diệp chỉ gặp nhau hai lần như vậy, từ đó về sau nàng không còn ý định muốn kết thân với Trầm Diệp nữa, cũng không tới làm khách ở phủ của cữu cữu nữa, nàng và Trầm Diệp thực ra ngay từ đầu đã không có duyên phận, sau đó nàng vẫn cố cưỡng cầu duyên phận với Trầm Diệp, cũng không biết đã làm sai hay đúng.

Mạch thiếu gia cho rằng A Lan Nhược quả thực đã cưỡng cầu, hơn nữa chàng tin chắc rằng chính bởi vì nàng đã cưỡng cầu mối nhân duyên này nên mới gieo mầm tai họa khiến mình hồn phi phách tán. Còn Trầm Diệp đối với A Lan Nhược, chàng chưa bao giờ tin rằng hắn ta có tình cảm gì với nàng, nếu có tình, sao có thể giương mắt nhìn nàng đi vào chỗ chết? Cho dù thế nào đi nữa, hắn ta thù ghét nàng suốt mấy chục năm, chỉ chung sống hòa thuận với nàng trong hai năm, dù mọi thứ xảy ra trong hai năm đó có thể coi là tình cảm, cũng không thể là tình cảm sâu đậm được. Còn về hành động của hắn sau khi A Lan Nhược qua đời, chẳng qua chỉ là thói sau khi mất đi mới cảm thấy trân trọng mà thôi. Trầm Diệp không hề yêu A Lan Nhược, nếu hắn ta yêu A Lan Nhược, đó mới là một câu chuyện cười.

Nhưng ông trời lại thích làm trò cười. Tâm tư tình cảm của người ở trong gương Diệu Hoa cứ cuồn cuộn dâng trào như một cơn đại hồng thủy, sắc mặt của Mạch thiếu gia dần dần trắng bệch. Đế Quân nhấp một ngụm trà, hỏi chàng: “Còn chịu đựng được không?”. Chàng cười, sắc mặt khó coi: “Mong Đế Tọa chỉ giáo, chịu đựng được thì sao, không chịu đựng được thì sao?”. Lời chỉ giáo của Đế Tọa lại rất đơn giản: “Đều phải chịu đựng”.

Người đời nói Thần Quan Trưởng lạnh lùng ít nói, tâm tư khó dò, thánh ý của Thượng Quân còn có thể suy đoán, còn tâm tư của Thần Quan Trưởng, dù có suy đoán cũng chỉ vô ích mà thôi. Vậy mà lúc này, tâm tư của vị Thần Quan Trưởng khó đoán đó lại hoàn toàn phơi bày trước mắt Mạch thiếu gia.

Chàng nhìn thấy rất rõ, giống như chàng chính là hắn ta vậy.

02.

Trầm Diệp được sinh ra một cách không hề thuận lợi. Khi mẫu thân hoài thai chàng, đã được đón tới thần cung chờ sinh nở, nhưng ngày chàng ra đời, trên trời lại không hề xuất hiện bất cứ dị tướng gì, hơn nữa, khi sinh ra chàng lại là một đứa trẻ vô cùng yếu ớt, ngay cả việc cất tiếng khóc cũng không làm nổi. Tức Trạch, Thần Quan Trưởng đương nhiệm không có mặt ở trong cung, mấy viên thần quan xấu tính đã đòi đuổi hai mẹ con chàng ra khỏi thần cung, vừa hay lúc đó Thượng Quân Tương Lý Ân đang tránh nóng ở thần cung đi qua, thấy thương tình đã giữ hai mẹ con chàng lại.

Thấy hơi thở của chàng thoi thóp yếu ớt, Tương Lý Ân đã cắt cổ tay lấy máu, dùng nửa bát máu đó để cứu mạng sống của chàng. Tiếng khóc đầu tiên của chàng vang lên đúng vào lúc giữa trưa, vốn dĩ trên trời chỉ có một mặt trời sáng chói, nhưng bỗng nhiên lại xuất hiện thêm một mặt trăng tròn, nhất thời mặt trăng và mặt trời cùng nhau chiếu sáng giữa đất trời, Tương Lý Ân cười vang: “Đây chẳng phải chính là vị tiểu Thần Quan Trưởng của bộ tộc chúng ta sao, nếu dị tướng trời giáng xuống là quang chiếu khuynh thành, chi bằng hãy lấy tên là Diệp”. Chàng theo họ mẹ, được Tương Lý Ân ban tên, bèn có một cái tên là Trầm Diệp.

Thượng Quân Tương Lý Ân làm chủ cho hôn sự của mẫu thân chàng, gả bà cho đại cữu cữu (anh vợ) của mình, mẫu thân của chàng liền rời thần cung để về nhà chồng, còn chàng, khi tròn một tuổi đã nhận sắc phong làm Thần Quan Trưởng kế nhiệm, đi theo Tức Trạch – Thần Quan Trưởng đương nhiệm để học bản lĩnh cần phải có của một Thần Quan Trưởng.

Thời gian thấm thoắt trôi đi, khi dưới núi xảy ra cung biến[1], chàng mới được năm tuổi. Tức Trạch thần quân vừa ăn bánh đậu xanh vừa cảnh cáo chàng, Kỳ Nam thần cung mặc dù có chức trách giám sát, nhưng nếu không phải vì Thượng Quân thất đức khiến trăm họ lầm than, những chuyện khác đều không thuộc chức trách giám sát của thần cung. Những chuyện như cung biến này, họ tranh giành nhau mặc kệ họ, chúng ta nếu có hứng thú thì tới xem trò vui, không có hứng thú thì đóng chặt cửa cung, ngồi uống trà ăn bánh.

[1] Cung biến: chỉ việc Tương Lý Khuyết giết Tương Lý Ân, giành ngôi vua và ép Khuynh Họa phu nhân làm vợ mình.

Bọn họ đóng cửa cung ăn bánh đậu xanh suốt mấy ngày liền, tin tức bên ngoài truyền tới nói rằng tân quân lên ngôi, đồng thời lấy vương hậu Khuynh Họa của Tương Lý Ân – Thượng Quân đời trước làm quý phu nhân, lễ quan của vương cung tới mời Thần Quan Trưởng tới cầu chúc. Tức Trạch lấy cớ đã quá no vì ăn nhiều bánh đậu xanh, không tiện xuất hành, sai vài tùy tùng khiêng chàng khi đó mới năm tuổi tới vương cung một chuyến. Lần đầu tiên chủ trì lễ cầu chúc, dù mới chỉ năm tuổi nhưng chàng lại không để xảy ra bất kỳ sai sót nào. Tức Trạch vô cùng hài lòng, từ đó về sau lại càng lười biếng, trong cung có việc gì cần tới Thần Quan Trưởng đều sai chàng đi thay. Mỗi lần đi thay, chàng đều làm tròn nhiệm vụ một cách rất xuất sắc, quả thực khiến Tức Trạch vô cùng yêu mến.

Mẫu thân của chàng được gả cho ca ca của Khuynh Họa, Khuynh Họa liền trở thành cô mẫu của chàng. Ít lâu sau Khuynh Họa sinh ra Quất Nặc, vì chàng thường xuyên vào cung nên thường giao Quất Nặc cho chàng chăm sóc. Năm chàng mười tuổi, vì phải vào trong núi để tu hành, suốt hai năm liền chàng không đặt chân vào vương cung. Khi chàng vào cung lần kế tiếp, Quất Nặc nũng nịu nói với chàng rằng, một năm trước mẫu thân đã sinh thêm một muội muội, muội muội vô cùng mềm mại đáng yêu, nhưng mẫu thân đã ném muội muội vào trong hang rắn, may mà bốn con mãng xà đó không ăn thịt muội muội, còn bắt chuột, cắn đứt cổ chuột, lấy máu bón cho muội muội.

Chỉ có một nơi trong vương cung có hang rắn, đó là bên cạnh suối Giải Ưu. Tại sao lại muốn tới xem đứa trẻ mà Quất Nặc kể, chàng cũng không thể nói ra được. Đêm hôm đó trăng sáng vằng vặc, chàng giẫm lên ánh trăng đi vào trong hoa viên, nghe được tiếng thì thầm to nhỏ của mấy cung nữ phía sau khóm trúc, nói rằng đứa trẻ trong hang rắn kia thường thích bò ra bò vào vào thời điểm này, đêm nay không hiểu sao không thấy động tĩnh gì, không biết đã bị bệnh hay bị làm sao, liệu có nên bẩm báo với Quân Hậu hay không. Mấy người đó đùn đẩy nhau xem ai tới bẩm báo với Quân Hậu sẽ tốt hơn, lại sợ Quân Hậu nổi giận, không ai muốn đi, đưa ra cái cớ Quân Hậu vứt đứa trẻ này vào trong hang rắn vỗn dĩ đã không muốn nó sống sót, nếu đứa trẻ này thực sự bị bệnh, việc đó lại càng hợp với mong muốn của Quân Hậu, nếu bọn họ tới bẩm báo, chưa biết chừng lại tự chuốc họa vào thân, tốt nhất là nên làm ra vẻ không biết, không bẩm báo gì cả. Lời thì thầm vang lên một lát rồi các cung nữ bỏ đi.

Chàng lại gần xà trận, bốn cột đá mà bốn con mãng xà phục trong đó đứng im lìm, mà ở sát bên đường biên của xà trận do bốn cột đá vạch ra, quả nhiên chàng nhìn thấy một đứa bé mới hơn một tuổi đang run rẩy nằm bò trên mặt đất. Đêm hôm đó là đêm rằm, mặt trăng tròn vành vạnh, đang đúng vào giờ chi âm, bốn con mãng xà trong cột đá chắc đang hút linh khí của ánh trăng, không để ý tới đứa trẻ này. Đề phòng làm kinh động tới mãng xà, chàng thận trọng đứng bên cạnh xà trận, cố gắng đưa tay lật ngược đứa trẻ lại. Dưới ánh trăng, chàng nhìn thấy khuôn mặt nhỏ bé nhem nhuốc của đứa trẻ, đôi môi khô nứt khép lại một cách khó nhọc, mấy chiếc răng sữa va vào nhau lập cập, nó đang ôm trong lòng một con chuột chết, trên tay dính đầy máu.

Đây là biểu muội của chàng. Cùng là biểu muội, Quất Nặc từ nhỏ đã được sống trong cảnh ăn sung mặc sướng, được kẻ hầu người hạ, đứa trẻ này lại chẳng có lấy một manh áo che thân, bị giam trong xà trận, người ngợm bẩn thỉu, chỉ có thể sống nhờ máu của loài chuột. Đứa trẻ nhỏ bé nằm trên mặt đất, run rẩy một hồi, cuối cùng không chịu nổi đã bật khóc, như bị ai đó chặn ngang cổ họng, tiếng khóc khe khẽ, mong manh. Một tiếng khóc yếu ớt không thành tiếng thành điệu như vậy nhưng lại đánh mạnh vào tim chàng.

Chàng không biết đứa trẻ này mắc bệnh gì, cũng không biết phải dùng phương thuốc thần diệu nào, nhưng trong Phạn Âm Cốc, không có phương thuốc thần diệu nào có công dụng kỳ diệu hơn máu của thần quan, điều này thì chàng biết. Vì kết giới của xà trận ngăn cản, chàng không thể vào trong xà trận đưa đứa trẻ ra ngoài, chỉ có thể cắn rách đầu ngón tay, miễn cưỡng thò tay vào trong kết giới, hướng về phía môi của đứa trẻ, mấy giọt máu rơi xuống, đứa trẻ cuối cùng đã có sức lực ôm lấy ngón tay của chàng mút mát. Đứa trẻ này rất ham ăn, không hề biết rằng máu của chàng lúc này chỉ là thuốc thần để chữa bệnh cho nó mà thôi, lại cứ nghĩ rằng đó là loại thức ăn bổ dưỡng, mút cho tới khi no căng bụng mới chịu buông ra giống như hút máu chuột.

Máu của chàng đã cứu mạng đứa trẻ, lúc này đây đang chảy trong huyết quản của đứa trẻ, chàng chưa từng dùng máu của mình để cứu mạng ai khác, điều này khiến chàng cảm thấy đứa trẻ này rất đặc biệt đối với chàng.

Chàng dùng tay áo lau sạch khuôn mặt cho nó, nhìn rõ đường nét trên khuôn mặt ấy, nhớ lại lời của Quất nặc nói rằng muội muội của nàng ấy rất mềm mại đáng yêu, chàng nghĩ cô bé này quả thực rất mềm mại đáng yêu, Khuynh Họa phu nhân thật nhẫn tâm. Sau khi đã ăn no nê cô bé bèn mở to đôi mắt trong sáng im lặng nhìn chàng, chàng vuốt ve trán cô bé, mỉm cười, cô bé thông minh cũng học theo điệu bộ của chàng, khóe môi non nớt cong lên, mỉm cười. Chàng khe khẽ vỗ về ru cô bé ngủ, cô bé mở to mắt nhìn chàng thật kỹ hồi lâu rồi mới nhắm mắt lại. Mà giờ chí âm sắp trôi qua, tinh thần cảnh giác của mấy con mãng xà sắp quay lại rồi.

Từ đó về sau, mỗi lần vào vương cung, chàng đều tìm cơ hội lặng lẽ tới thăm cô bé. Nhưng thường chỉ có vào giờ chi âm trong đêm rằm mới có thể tiếp cận xà trận. Sau đó, nhờ Tức Trạch mà chàng biết rằng máu của Thượng Quân có thể khiến mãng xà trong cột đá say ngủ, lấy cớ cần cúng tế, chàng đã tích trữ được không ít máu từ đầu ngón tay của Thượng Quân. Dùng cách này, chàng cuối cùng đã có thể bước vào xà trận. Một lần, chàng thử xem có thể bế cô bé ra ngoài xà trận được không, nhưng khi bàn tay mềm oặt của cô bé vừa chạm phải kết giới bao quanh xà trận, không hiểu sao mấy con mãng xà đang say ngủ trong cột đá bỗng bừng tỉnh, may mà chàng thân thủ nhanh nhẹn nên mới không bị nuốt vào bụng mãng xà. Lúc bấy giờ chàng mới biết rằng, một đứa trẻ mới gần mười tuổi như mình, dù mang danh là Thần Quan Trưởng kế nhiệm nhưng sức mạnh vẫn còn yếu ớt biết bao.

Chàng rất thương xót biểu muội này, âm thầm chăm sóc cô bé năm năm. Khi cô bé đói, chàng đưa thức ăn tới cho cô bé, khi cô bé lạnh, chàng dùng da rắn đã lột xác làm thành áo ấm cho cô. Việc chăm sóc này không hề lộ dấu vết, không hề bị ai phát hiện ra trong suốt năm năm, cũng tránh được cho cô bé những chuyện xui xẻo. Khi vừa mới ra đời cô bé đã bị vứt vào trong hang rắn, đương nhiên là không có tên, cô bé không phải là rắn, cô bé là công chúa của bộ tộc Tỷ Dực Điểu, cô bé cần có tên, song thân cô bé không muốn đặt tên cho cô, chàng nghĩ rằng chàng có thể đặt tên cho cô bé. Chàng đặt cho cô bé cái tên A Lan Nhược, có nghĩa là tĩnh lặng. Chàng viết ba chữ A Lan Nhược vào trong lòng bàn tay của cô bé, chậm rãi đọc thành tiếng, A Lan Nhược, đây là tên của muội, sau này khi ta nói ba chữ này, tức là đang gọi tên muội. Cô bé thông minh cũng bắt chước dùng tay vẽ bừa lên mặt đất khiến chàng cảm thấy buồn cười. Chàng dùng pháp thuật đóng dấu ba chữ đó lên cánh tay cô bé, khẽ nói, vẽ theo cái này. Cô bé ngờ nghệch túm chặt lấy tay áo của chàng, chớp chớp mắt, gắng sức nói: “Diệp… Diệp… Lan…”. Chàng khẽ nói: “Đúng, ta là Trầm Diệp, là biểu ca của muội, muội là A Lan Nhược, Tương Lý A Lan Nhược”.

Các đời Thần Quan Trưởng kế nhiệm khi tròn mười lăm tuổi sẽ phải bế quan trong hai mươi năm, tu thành sẽ trở thành Phó Thần Quan Trưởng. Hồi nhỏ chàng không có vướng bận gì, một lòng mong chờ tới thời kỳ tu hành này. Giờ đây bận rộn chăm sóc cho A Lan Nhược, lại cảm thấy trì hoãn thêm ngày nào tốt ngày ấy. Nhưng chung quy lại, đây vẫn là chức trách không thể né tránh được.

Chàng lo rằng sau khi chàng đi không ai chăm sóc cho cô bé, lại phải ăn thịt chuột, uống máu chuột, đêm từ biệt, chàng đã trồng một cây tứ quý quả[2] trong xà trận, lại đem nước suối trời trong thần cung tới tưới cho cây. Chỉ một lát sau cây tứ quý quả đã mọc cành lá xum xuê tươi tốt rồi đơm hoa kết trái, chàng hái một trái đưa cho cô bé, dạy rằng sau này mỗi khi đói bụng hãy ăn thứ này, nếu khát hãy uống nước suối Giải Ưu, tuyệt đối không được ăn thịt chuột để sống.

[2] Cây tứ quý quả: cây ra hoa kết quả suốt bốn mùa.

Năm đó cô bé đã được năm tuổi, vẻ ngoài trắng trẻo đáng yêu, nhưng vì trong xà trận thường có khí độc nên không nhớ rõ mọi chuyện và cũng không nói được. Tuy vậy cô bé chắc cũng biết đây là một cuộc chia ly, thò tay túm chặt lấy vạt áo của chàng, không chịu ngủ. Chàng nhìn cô bé, hồi lâu, nói: “Muội còn nhỏ như vậy, đến khi ta quay trở lại, muội chắc chắn đã quên ta rồi”. Cô bé lại tưởng rằng chàng đang dặn dò điều gì, gật đầu như hiểu lại như không hiểu. Chàng đưa tay vò vò tóc mái của cô bé, dưới ánh trăng trong trẻo, hoa tứ quý bay lượn theo chiều gió, một đóa rơi đúng vào vai cô bé. Chàng nhặt đóa hoa lên, cài vào tai cô, ngón tay khẽ vuốt ve rồi dừng lại, hứa hẹn với cô bé nhỏ xíu: “Ta sẽ quay trở lại, đợi khi ta lên làm Thần Quan Trưởng, thì có thể cứu muội ra ngoài”. Dừng lại một chút, ôm cô bé vào lòng: “Ta là người thân duy nhất của muội, A Lan Nhược, bọn họ không cần muội, muội còn có ta”.

Đêm hôm đó, khi chàng ra đi, cô bé bừng tỉnh trong giấc mơ, kêu khóc thảm thiết. Nhưng chàng không quay đầu lại. Để mặc tiếng khóc của cô bé dần dần biến mất phía sau lưng.

Hai mươi năm như thể đã cách cả đời người, chàng quay trở lại vương cung vừa hay đúng vào đêm rằm, Thượng Quân mở tiệc chiêu đãi, chàng nôn nóng muốn được gặp cô bé kia. Tin tức đầu tiên về nàng mà chàng nghe được lại là tin nhị hoàng tử của Tây Hải đã xông vào xà trận. Thượng Quân dẫn theo đám quần thần đang dự tiệc vội vã chạy tới suối Giải Ưu, chàng cũng vội vã đi theo. Khi lại một lần nữa đặt chân tới chốn này, giữa cảnh hoang tàn đổ nát, thứ đầu tiên lọt vào mắt chàng lại là hình ảnh trên một đám mây giữa lưng chừng không, thiếu nữ ngây thơ non nớt được vị nam tử áo trắng ôm trọn trong lòng, khoác một chiếc áo choàng trắng của nam giới bên ngoài lớp váy thô mộc làm từ da rắn, chiếc áo màu trắng tung bay trong gió, để lộ một khuôn mặt non nớt, vô cùng xinh xắn. Hai mươi năm không gặp, cô bé đã thành một thiếu nữ rồi.

Làn nước biếc trong suối Giải Ưu cuồn cuộn trào dâng, đám mãng xà không ngừng phun phì phì, tiếng nhạc khe khẽ phát ra từ cây tiêu ngọc bích, cô bé đó lần đầu tiên giang cánh trong vòng tay của nam tử áo trắng, không ai trong vương thất được sở hữu một đôi cánh trắng muốt như vậy, lông tơ trắng muốt nhẹ nhàng rơi xuống, chàng đưa tay đón lấy. Còn trên đám mây kia, ánh mắt của nam tử áo trắng lướt qua cánh tay nàng, bỗng cất giọng nói: “A Lan Nhược, ý nghĩa rất hay, ngươi không có tên, chi bằng hãy lấy tên A Lan Nhược đi”. Chàng nhìn thấy nàng mông lung nhìn nam tử áo trắng, nói một cách ngắt quãng: “A… Lan… Nhược?”. Nam tử áo trắng cười nói: “Đọc rất đúng, A Lan Nhược, ta là Tô Mạch Diệp, Tô Mạch Diệp ở Tây Hải”.

Ta là Trầm Diệp. Là biểu ca của muội. Muội là A Lan Nhược. Tương Lý A Lan Nhược.

Nhị hoàng tử ôm nàng, đứng trên không trung, gật đầu chào Thượng Quân, nở một nụ cười đầy khách khí: “Tây Hải của chúng ta khi muốn giáo dưỡng ra những bậc hảo hãn, cũng thường thách thức vứt họ ra ngoài để rèn luyện, chắc Thượng Quân có lòng muốn tôi luyện nhị công chúa nên mới lệnh cho nàng vào trong xà trận này để tu luyện chăng, có điều đứa trẻ này Tô mỗ vừa nhìn đã thấy quý mến, ngày hôm nay đã nhận nàng làm đồ đệ, bèn muốn giữ lại ở bên mình để giáo dưỡng, không biết Thượng Quân có chịu ban cho Tô mỗ chút ân tình này không?”.

Những lời này được nói ra một cách rất thể diện lại rất chọc ngoáy, thần sắc của Thượng Quân rất phức tạp, nhưng cuối cùng cũng đã chấp thuận.

Chàng thấy nhị hoàng tử vỗ về trán nàng, khẽ nói: “Từ nay về sau ngươi sẽ không phải ở đây nữa, đi theo ta, ngươi có vui không?”. Nàng khẽ gật đầu, khóe môi non nớt cong lên, nở một nụ cười, cách nàng cười vẫn giống như chàng đã dạy nàng khi còn nhỏ. Chàng nghĩ nàng quả nhiên đã quên chàng rồi, nhưng vẫn còn một vài thứ được lưu giữ trên người nàng. Nhờ trải qua hai mươi năm khổ tu, giờ đây chàng đã đủ mạnh để cứu nàng ra khỏi xà trận, nhưng lúc này chàng vẫn chưa nắm quyền lớn trong tay, nếu cứu nàng ra ngoài cũng vẫn phải trốn tránh. Tây Hải nhị hoàng tử có thể bảo vệ nàng tốt hơn chàng.

Trong khoảnh khắc tiếng nhạc đuổi rắn dừng lại, một con mãng xà bỗng nhe nanh nhọn lao về phía đám mây, cây kim nhỏ chuyên dùng để đối phó với những con mãng xà này bay ra từ đầu ngón tay chàng. Con mãng xà hung tợn khựng lại, rơi mạnh xuống đất. Chàng lặng lẽ thu tay vào trong tay áo, nhân lúc quần thần trầm trồ kinh ngạc, chàng lặng lẽ rời xa suối Giải Ưu. Chàng nghĩ khi nàng chào đời, vận mệnh của nàng không được may mắn, lúc này cũng coi như đã gặp được vận may, đây là một chuyện tốt đẹp.

Hai mươi năm tu luyện gian khổ, trong những ngày tháng vô vị trong núi, chàng thường hay nhớ tới nàng. Chàng là Thần Quan Trưởng do trời định, mẫu thân coi việc hoài thai chàng là một vinh quang, chưa từng coi chàng là con của mình, sự tôn kính dành cho chàng còn lớn hơn cả tình yêu thương của một người mẹ, chàng chưa từng được nếm trải tư vị của tình thân. Chàng từng nói với nàng, ta là người thân duy nhất của muội, nhưng thực ra nàng cũng là người thân duy nhất của chàng. Chàng đã cứu nàng trở về từ ranh giới giữa sự sống và cái chết, đặt tên cho nàng, dành cho nàng tất cả mọi tình thân. Chàng có chấp niệm, chấp niệm của chàng là nàng. Nhưng giờ đây, nàng đã có nơi nương tựa tốt hơn. Chàng nghĩ, nếu muốn chấp niệm không thành ma chướng, đã từ bỏ phải từ bỏ một cách triệt để, như vậy mới có thể bình tâm được.

Mười năm, chàng vẫn thường nhớ tới nàng, nhưng chưa từng nhắc tới nàng dù chỉ một câu, chưa từng lại gần nàng dù chỉ một chút.

Trong thời gian chàng trường tu, Khuynh Họa phu nhân đã sinh hạ Thường Đệ, chắc lúc đó, lòng căm hận của bà đối với Tương Lý Khuyết đã giảm đi không ít, so với A Lan Nhược, Thường Đệ được làm công chúa một cách thuận lợi. Mỗi lần vào cung, Quất Nặc và Thường Đệ thường thích bám lấy chàng, hai tỷ muội cũng thi thoảng nhắc tới A Lan Nhược trước mặt chàng. Quất Nặc bản tính trầm lặng, thường không thích nói nhiều về chủ đề này, mặc dù vậy nhưng cũng đã quên mất lòng tốt của mình đối với A Lan Nhược khi còn nhỏ. Còn Thường Đệ, lần nào cũng nói một cách hăng say nhất, khiến chàng rất khó chịu.

Một hôm Thường Đệ lại nhắc tới nàng: “Hôm nay muội nghe một lão cung nữ nói, khi A Lan Nhược ở trong xà trận đều phải ăn thịt chuột, uống máu chuột để sống, mọi người có thể tưởng tượng được không, uống nhiều máu chuột như vậy, máu chảy trong người của nó, chắc phần lớn đều biến thành máu chuột rồi nhỉ, chậc chậc… Bẩn thỉu thấp hèn như vậy, không hiểu sao phụ quân lại đồng ý cho nó quay trở lại tộc, còn ngồi lên ngôi vị công chúa nữa chứ, nó đâu có xứng đáng! Trầm Diệp biểu ca, huynh nói xem muội nói có đúng không?”.

Chàng nghĩ nếu nàng đã uống máu chuột, trong người liền có máu chuột, vậy nàng cũng từng uống máu của chàng, liệu có phải giờ đây trong người nàng cũng đang chảy dòng máu của chàng không? Điều này khiến chàng có chút thất thần.

Thường Đệ còn thúc giục chàng: “Biểu ca, huynh nói xem ban nãy muội nói có đúng không?”. Chàng mất hết kiên nhẫn, lạnh lùng nói: “Nếu phải bàn về huyết thống, ngươi có biết huyết thống duy nhất Kỳ Nam thần cung coi thường là gì không”. Khuôn mặt của Thường Đệ bỗng trở nên trắng bệch. Kỳ Nam thần cung rất coi thường huyết thống không trong sạch, nếu xét theo lý lẽ này, máu của Thường Đệ và A Lan Nhược không có gì khác biệt. Nhưng A Lan Nhược là do chàng nuôi dưỡng lớn lên, cũng đã từng uống máu của chàng, dù kế thừa dòng máu không trong sạch của mẫu thân nàng, vậy thì đã sao.

Tức Trạch mấy năm gần đây hầu như đã không quản việc nữa, dựng một trúc viên tịnh xá[3] ở Kỳ Nam hậu sơn, nói rằng mình lâm trọng bệnh, cần chuyển tới đó để tĩnh dưỡng. Ban đầu, chàng đã tin ngay, tới tịnh xá thăm ngài ấy, nhưng lại thấy Tức Trạch xắn quần, đi chân trần bắt cá dưới sông một cách rất hăng hái, khuôn mặt còn tươi tỉnh mà tràn đầy sinh lực hơn chàng.

[3] Tịnh xá: ban đầu chỉ nơi dùng để dạy học của nhà Nho, sau chỉ nơi dành để tu luyện của người xuất gia.

Tức Trạch giả bộ ho hắng vài tiếng, nói với vẻ chân thành: “Bản quân quả thực đã bị nhiễm bệnh, nhưng chỉ vì bản quân là người kiên cường, không thèm xuất hiện trong bộ dạng đau ốm mệt mỏi, ngươi thấy bản quân giống như một người không mắc bệnh, không đau đớn nhưng thực ra bản quân bệnh sắp chết rồi”.

Chàng nói với Tức Trạch thần quân – người sắp chết bệnh rằng: “Rất nhiều đồng liêu hẹn nhau mấy ngày tới sẽ đến đây thăm ngài, ngài kiên cường như vậy nhất định sẽ khiến họ cảm động”. Nụ cười trên khuôn mặt Tức Trạch hơi cứng đờ.

Nghe nói sau đó mỗi khi có thần quan tới tịnh xá thăm Tức Trạch, đều nhìn thấy Tức Trạch bệnh tật nằm trên giường trong bộ dạng tiều tụy.

Tức Trạch đã lâm trọng bệnh, mọi việc của thần cung đương nhiên đều dồn lên vai chàng. Năm đó, Thái Thượng Lão Quân trên Cửu Trùng Thiên mở Đạo hội dùng đạo pháp để bàn luận thiên cơ ở Bảo Nguyệt Quang Uyển trên Tam Thập Nhị Thiên, chàng đi dự hội thay cho Tức Trạch. Đạo hội kéo dài suốt chín chín tám mươi mốt ngày, dài lê thê lại vô vị, nhưng vì lần Đạo hội này đã mời rất nhiều chư tiên, vô cùng náo nhiệt. Do đó, sau khi Đạo hội kết thúc, nhân lúc đông vui, Bách Quả Tiên đã mở tiệc bách quả khoản đãi chư vị thần tiên, lại kéo dài thêm chín ngày nữa.

Đợi đến khi chàng quay trở về Phạn Âm Cốc, không ngờ rằng, chàng lại nghe thấy tiếng kèn hỷ.

A Lan Nhược đã xuất giá. Nàng được gả cho Tức Trạch.

Đó là một ngày trời trở gió, Kỳ Nam thần cung lơ lửng giữa không trung, biến hóa ra một chiếc cầu thang bằng mây vươn dài chạm đất. Trong tiếng tiên nhạc du dương, Tức Trạch thần quân trong bộ lễ phục bước xuống cầu thang, dắt tân nương áo đỏ của ngài ra từ trong chiếc kiệu đưa dâu, nắm lấy tay nàng, bước từng bước về phía cửa cung uy nghiêm. Chàng đứng phía sau một cây bồ đề không rễ bên cạnh cửa cung, thấy nàng khoác một chiếc áo choàng cùng màu ở bên ngoài hỷ phục, chiếc mũ tránh gió che lấp phần lớn khuôn mặt, chỉ để lộ đôi môi đỏ hồng cùng chiếc cằm nhỏ xinh trắng ngần. Chàng nhíu mày, lấy ra một chiếc lông màu đen trong tay áo, đặt vào lòng bàn tay, thổi khẽ, một trận cuồng phong bỗng nổi lên trên thang mây, lật tung mũ trùm đầu của nàng. Nàng dùng tay giữ mái tóc đang bay, ngẩng đầu lên, cặp lông mày thanh tú hơi nhướng lên. Đã lâu rồi chàng không gặp nàng. Trong trang phục như thế này, trông nàng thật xinh đẹp.

Chàng thất thần trong giây lát, đêm hôm đó hoa tứ quý rơi rụng lả tả như tuyết trắng, dưới cây hoa, chàng ôm nàng khi đó vẫn còn là một đứa trẻ trong lòng, khẽ hứa với nàng: “Ta là người thân duy nhất của muội, A Lan Nhược. Bọn họ không cần muội, muội còn có ta”.

Nhưng từ lần quay người bước đi trong đêm trăng của mười năm về trước, lời thề đã hứa đã không còn là lời thề nữa. Càng ngày nàng sẽ càng có nhiều người thân, sư phụ của nàng, phu quân của nàng, sau này còn có con cái của nàng nữa. Chàng nhìn nàng lần cuối cùng, trận cuồng phong đã dần biến mất, Tức Trạch đội lại mũ trùm đầu cho nàng, khóe môi đỏ thắm của nàng cong lên, nở một nụ cười bông đùa. Đó không phải là nụ cười mà chàng đã từng dạy nàng, nhưng chàng biết một người có điệu cười đó, Nhị hoàng tử của Tây Hải, Tô Mạch Diệp.

Thời gian như dòng nước chảy, trên người nàng không còn chút vết tích nào mà chàng từng lưu lại nữa, giống như chàng chưa từng xuất hiện trong cuộc đời nàng vậy. Tức Trạch dắt tay nàng bước vào trong thần cung, cánh cửa thần cung nặng nề khép lại. Chiếc lông vũ màu đen nhẹ tênh bay trở lại trong tay chàng. Mười năm trước chàng đã để mất nàng, đã mất đi rồi, còn nói gì tới chuyện mất mát thêm một lần nữa, chỉ là lần đi lướt qua nhau này, không hiểu sao, lại khiến chàng cảm thấy đau khổ nhiều hơn lần trước.

Hơn hai mươi năm sau, Tức Trạch thoái vị, chàng kế thừa ngôi vị Thần Quan Trưởng, trở thành vị Thần Quan Trưởng trẻ tuổi nhất trong lịch sử của Phạn Âm Cốc. Tức Trạch làm ra vẻ bệnh nặng, không còn sống thêm được bao nhiêu ngày nữa, tránh về Kỳ Nam hậu sơn, chàng đích thân tiễn ngài ấy vào trúc viên, Tức Trạch còn trêu đùa chàng: “Vô cùng điển trai, vô cùng thông minh, nhưng suốt ngày nghiêm mặt, đương nhiên ngươi làm mặt lạnh sẽ tuấn tú hơn khi cười, nhưng tới đưa tiễn ta, tốt nhất vẫn nên cười một chút, ta sẽ cảm thấy thoải mái hơn”.

Chàng đưa mắt nhìn khắp trúc viên, lại không hề nhìn thấy vật dụng nào của nữ tử, cuối cùng không kìm nén được hỏi: “Thê tử của ngài đâu?”. Tức Trạch rũ tung một tấm chăn có phần ẩm ướt đem phơi dưới nắng: “Một tiểu cô nương, tuổi còn rất trẻ lại ẩn cư cùng ta ở đây thì có ý nghĩa gì, đương nhiên nên ở trong phủ của mình bên ngoài núi”.

Chàng đưa mắt nhìn cảnh vật hoang dã trong núi, lạnh lùng nói: “Ngài đối với nàng thật tốt”.

Tức Trạch mỉm cười, đắc ý tán đồng: “Nàng quả thực rất có phúc khi gặp được một người tốt như ta”.

Người đời đồn rằng vị Thần Quan Trưởng đời này có dung mạo tuấn tú vô song nhưng lại có tính cách lạnh lùng kiêu ngạo khiến người khác khó mà gần gũi. Hành động của chàng cũng giống như lời đồn, từ sau khi chàng tiếp quản Kỳ Nam cung, cách hành sự của thần cung ngày càng kín đáo, nếu không phải là đại lễ, rất khó thấy bóng dáng của Thần Quan Trưởng.

Năm thứ hai sau khi chàng kế vị, Khuynh Họa phu nhân xin Thượng Quân ban hôn, chọn chàng làm phò mã của Quất Nặc, năm đó căn cơ của chàng còn chưa vững, rất khó chối từ, nhưng lấy cớ rằng còn đang ở độ tuổi vị thành niên, cần trường tu trong thanh tịnh, chỉ tiến hành lễ đính hôn, thời điểm kết hôn thì được kéo dài vô tận. Sau lễ đính hôn, chàng lại càng ở nhiều trong thần cung, tập viết chữ, luyện kiếm, trồng cây chơi cờ, chỉ làm bạn với ngọn đèn và kinh thư. Trong khu vườn nơi chàng ở, năm A Lan Nhược thành hôn, chàng đã trồng một vườn hoa tứ quý, không dùng nước suối trời để tưới, do đó cây mọc rất chậm, trong suốt gần hai mươi năm, khi có chuyện xảy đến với Quất Nặc, cây mới đơm hoa kết trái lần đầu tiên.

Mặc dù hành động của Quất Nặc đã làm chàng vô cùng mất thể diện, nhưng Quất Nặc là huyết mạch duy nhất của Tương Lý Ân, không thể không cứu. Chàng cũng biết nếu cứu Quất Nặc sẽ dẫn tới một thế cục bế tắc, Thượng Quân chắc chắn sẽ nhân cơ hội này mà đuổi chàng ra khỏi thần cung. Nhưng có một vài việc, tưởng chừng như một thế cục chết, nếu nắm vững được thời cơ, lại là một con đường sống đầy bất ngờ.

Tương Lý Khuyết là một vị quân vương ngang ngược độc đoán, từ ngày kế vị đã dòm ngó thần cung như hổ đói rình mồi, có ý muốn thao túng thần cung trong tay mình. Tức Trạch đã nhìn rõ mọi chuyện, nhưng lại là một người ngại phiền phức, do đó khi Tương Lý Khuyết vừa lên ngôi, Tức Trạch liền hoan hỷ vứt hết mọi việc cho Thần Quan Trưởng kế nhiệm, người vẫn còn là một đứa trẻ là chàng, ung dung tự tại lui về ở ẩn trên Kỳ Nam hậu sơn. Thế lực trong thần cung phức tạp hỗn loạn, lại có không ít người vô cùng cố chấp, đồng thời chưa phát hiện ra dã tâm của Tương Lý Khuyết, mấy năm gần đây mặc dù chàng đã ngồi trên ngôi vị Thần Quan Trưởng, nhưng đôi khi hành sự vẫn bị gây cản trở, khó tránh khỏi khó khăn. Tuy nhiên, một khi thần cung mất đi Thần Quan Trưởng, với cá tính cố chấp của Tương Lý Khuyết, hắn sẽ không phải cố gắng kiềm chế dã tâm của mình đối với thần cung nữa. Nếu không may là mấy năm tới Tương Lý Khuyết hành sự cẩn trọng, chàng cũng có cách khiến hắn không còn kìm chế nữa.

Nội bộ Kỳ Nam thần cung dù có tranh đấu với nhau như thế nào, chung quy vẫn không thể chấp nhận thế lực bên ngoài khinh nhờn họ. Tương Lý Khuyết hạ thủ với thần cung sớm ngày nào, thì các thế lực trong thần cung sẽ có thể vứt bỏ khúc mắc, cùng hợp lực chống lại thế lực bên ngoài sớm ngày đó. Chàng là Thần Quan Trưởng do trời định, cho dù Tương Lý Khuyết phế truất chàng, một khi vương cung và thần cung thật sự đối đầu, người trấn thủ Kỳ Nam thần cung chỉ có thể là chàng, cho dù là những lão thần quan cứng đầu kia, ngoài việc nghênh đón chàng về cũng chẳng còn cách nào khác. Việc này chính là lùi để tiến.

Chàng ngồi trên ngôi vị cao như vậy, đại Thần Quan Trưởng trẻ tuổi mà thần bí, hưởng sự tôn kính của người đời, cuộc sống lại giống như một mảnh đất hoang, chỉ sừng sững một tòa Kỳ Nam thần cung, có thể khi gió Đông thổi tung cát bụi, vẫn có thể nhìn thấy vài hạt giống của cây hoa tứ quý, nhưng cũng chỉ là những hạt giống không thể nở hoa mà thôi.

Mà rốt cuộc là nhân duyên gì lại khiến chàng gặp lại nàng trên đài hành hình Quất Nặc. Toàn thân nàng mặc đồ đỏ, giang rộng đôi cánh trắng muốt, đứng giữa lưng chừng không, hơi cúi đầu xuống nhìn chàng, nở một nụ cười trên khóe môi: “Huynh còn nhớ chứ, mặc dù không cùng huynh lớn lên như Quất Nặc, ta cũng là muội muội của huynh”.

A Lan Nhược, đây là tên của muội, sau này ta nói ba chữ này, tức là đang gọi tên muội.

“Nghe nói máu của thần quan có thể tịnh hóa những thứ ô uế, hôm nay nhờ ân trạch của thần quan đại nhân, không biết máu của ta liệu có sạch sẽ hơn nhiều không?”.

Muội còn nhỏ như vậy, khi ta quay trở lại, muội chắc chắn đã quên ta rồi.

“Chàng là do ta cứu, thì chàng là của ta”.

Ta sẽ quay trở lại, đợi khi ta lên làm Thần Quan Trưởng, sẽ có thể cứu muội ra ngoài.

“Ngươi xem, thời thế bây giờ, đang là như thế nào?”.

Ta là người thân duy nhất của muội, bọn họ không cần muội, muội còn có ta.

Làm sao có thể quên được. A Lan Nhược.

Nhưng chàng quả thực đã rời xa nàng quá lâu, không biết từ bao giờ, nàng cũng đã học được cách giam cầm và chiếm đoạt.

Trong giấc mơ sâu thẳm, sâu thẳm nhất, chàng thực ra đã từng mơ thấy nàng, mơ thấy năm đó chính chàng đã cứu nàng ra khỏi xà trận, còn nàng giang cánh trong vòng tay của chàng. Không phải chàng chưa từng nghĩ rằng có một ngày mình sẽ bị sa cơ, nhưng trên thế gian này, nếu nói có một người duy nhất mà chàng không muốn để người đó nhìn thấy chàng sa cơ, đó chỉ có thể là A Lan Nhược. Nhưng lúc này, chàng bị giam trong phủ của nàng, trong một khoảng trời nhỏ bé, giống như một tù nhân.

Không ai thích bị cầm tù.

Rồi sau đó nàng đã viết thư cho chàng, giả tên người khác để đùa cợt chàng.

Chàng là một người luôn biết cách che giấu cảm xúc, nếu người đó không phải là A Lan Nhược, chàng tuyệt đối sẽ không phẫn nộ đến như vậy.

Ánh nến lay lắt trong thư phòng, nàng biếng nhác ngồi dựa lưng trên chiếc giường thấp: “Huynh chưa từng nghĩ ta không hề căm ghét huynh như huynh căm ghét ta, có thể ta còn rất thích huynh, làm những việc đó thực ra là muốn huynh vui”. Nếu muốn chàng vui, sao phải mượn danh nghĩa của người khác, tại sao không đề tên nàng dưới mỗi bức thư? Chàng quả thực vô cùng tức giận, lần đầu tiên trong đời nói năng không suy nghĩ. Còn nàng lại bật cười: “Những lời ta nói có thể là thật, có thể là giả, có thể ta thật lòng thích huynh, có thể ta thật lòng muốn đùa giỡn với huynh”.

Khi nàng nói thật lòng thích chàng, nàng khẽ nghiêng đầu, trong điệu bộ có một nét ngây thơ mà đã lâu chàng chưa được nhìn thấy.

Trước khi nàng thốt lên những chữ này, những hạt giống hoa tứ quý không thể nảy mầm được chôn giấu trong sâu thẳm trái tim chàng, chàng chưa từng nghĩ có thể đó là yêu thích. Nhưng khi nàng nói ra những lời như vậy, lại giống như mở ra một chiếc hộp đã bị yểm chú đóng kín, những thứ được cất giấu trong đó đồng loạt lao ra ngoài.

Tại sao phải trường tu, tại sao phải cứu nàng, tại sao trong mộng cảnh sâu thẳm nhất bí mật nhất, lại chỉ xuất hiện duy nhất hình ảnh của nàng.

Trong thạch trận giam giữ khuyển nhân, chàng vào trận cứu nàng gần như là do bản năng, chàng ôm nàng lăn ra ngoài kết giới, nàng khẽ thì thầm bên tai chàng: “Huynh thật sự thích ta, Trầm Diệp”. Chàng ôm nàng trong lòng, thấy ánh mắt nàng long lanh, giống như trong đêm trăng hồi nàng còn nhỏ, chàng dạy nàng đọc tên của mình: “Diệp… Lan…”. Nàng bập bẹ đọc. Hai chữ bập bẹ đó có thể lại chính là một điềm báo.

Chàng đã được định là sẽ yêu nàng. Chàng thực ra chưa từng thôi khát khao nàng.

03.

Hai năm sau đó là một quãng thời gian tươi đẹp. Chàng trồng vài cây tứ quý trong Mạnh Xuân viện, mùa hè năm đó đã có một nửa số cây khai hoa kết trái. A Lan Nhược đứng dưới gốc cây như trầm tư suy nghĩ điều gì: “Trong xà trận cũng có cây tứ quý, hồi nhỏ muội luôn ăn thứ quả này, nghe nói trước đây trong xà trận không có loại cây này, nhưng chỉ trong một đêm, cây đã này mẩm, mọc lên rồi đơm hoa kết trái, chắc là ông trời đã thương xót muội chăng”. Những chuyện đã xảy ra, vì nàng bị khí độc trong xà trận giam hãm, quả nhiên không còn nhớ lại được nữa. Vậy cũng không sao cả, chàng nghĩ, như bây giờ đã rất tốt rồi.

Đôi khi, vào những đêm trăng sáng, nàng mang giường mây ra ngồi hóng mát dưới gốc cây tứ quý. Đêm hôm đó, chàng từ phòng chế tác gương đi ra, từ xa chỉ nhìn thấy ánh trăng sáng vằng vặc, còn nàng đang nằm trên giường mây, dáng vẻ như đã ngủ say, tán cây tứ quý to lớn tỏa bóng râm trên đầu nàng, một tập thơ rớt xuống từ tay nàng.

Chàng thích được nhìn ngắm dáng vẻ nàng khi ngủ say, cho dù trong lòng có bao nhiêu điều phiền muộn, nhìn gương mặt nàng khi ngủ cũng có thể giúp chàng lập tức quên đi tất cả. Nàng vẫn ở bên chàng.

Những đóa hoa màu trắng rơi trên chiếc giường mây, chàng cúi người sát bên nàng, lặng ngắm hồi lâu, nhặt một đóa cài lên tóc mai của nàng, ngón tay khẽ vuốt ve tóc mai nàng rồi dừng lại, lướt qua hàng lông mày, sống mũi, khóe môi của nàng. Lần đầu tiên chàng cài hoa cho nàng cũng là dưới gốc cây tứ quý, hành động thân mật này giống như đang thực hiện một lời thề, muội còn có ta, A Lan Nhược, có ta là đã đủ rồi. Hồi lâu, chàng cúi xuống, hôn lên trán nàng. Nàng không hề tỉnh dậy.

Nhưng vận mệnh lại bắt đầu sai sót từ đó.

Khuynh Họa phu nhân mượn cớ tới kiểm tra tiến độ chế tác gương, tới phủ của A Lan Nhược nói chuyện với chàng. Trong phòng chế tác gương, khuôn mặt được trang điểm giống như một chiếc mặt nạ của Khuynh Họa phu nhân hiện lên trong những mảnh gương hai mặt vỡ vụn, cất giọng nhàn nhạt, nói: “Tương Lý Khuyết còn tại vị ngày nào thì ngày đó ngươi không thể quay lại Kỳ Nam thần cung, ta không biết ngươi có diệu kế gì, nhưng biết ngươi không muốn bị giam giữ ở đây. Từ trước tới giờ ngươi luôn kính trọng phu quân đã khuất của ta, mà tấm lòng muốn báo thù cho phu quân của ta cũng chưa một ngày phai nhạt. Tại sao ta và ngươi không cùng kết hợp lại, đôi bên cùng có lợi, nếu Quất Nặc kế vị, ta thay mặt nó thề với ngươi rằng, vương cung sẽ vĩnh viễn không mạo phạm tới thần cung”.

Theo kế sách trước đây của chàng, nếu lúc này chàng còn tự do, đã sớm có thể ép Tương Lý Khuyết phải động can qua với thần cung rồi. Nhưng hiện nay Tương Lý Khuyết quả thực đã không còn lỗ mạng như trước đây, vẫn áp dụng cách áp chế dần dần nuốt gọn thần cung. Nhìn bề ngoài, ở thần cung dường như vô sự, nhưng chắc chắn các thần quan trong đó đã bị Tương Lý Khuyết ngấm ngầm thay đổi rất nhiều rồi. Gần hai năm ẩn cư, không phải chàng không hề biết chuyện gì đang xảy ra bên ngoài. Chàng luôn đợi Khuynh Họa tới tìm chàng.

Khi chàng còn nhỏ, Tức Trạch thường giáo huấn chàng rằng, Kỳ Nam thần cung chúng ta, khi chưa đến mức vạn bất đắc dĩ, tuyệt đối không vướng vào vòng tranh chấp phàm trần, những việc đó sẽ làm mất phong cách của chúng ta. Chắc chắn Tức Trạch sớm đã dự liệu được rằng cuối cùng sẽ có một ngày bọn họ bị cuốn vào những chuyện mất phong cách như vậy, ngài ấy không muốn làm việc này, do đó mới dồn gánh nặng lên vai chàng. Nếu đã có sự hỗ trợ của Khuynh Họa, Tương Lý Khuyết chắc chắn sẽ chết. Cho dù mục đích của Khuynh Họa là đưa Quất Nặc lên kế vị, nhưng Quất Nặc kế vị hay thái tử Tương Lý Hạ kế vị thì có can hệ gì tới chàng? Kỳ Nam thần cung chỉ cần cái chết của Tương Lý Khuyết mà thôi.

Khuynh Họa ba lần tới phủ, tỏ rõ thành ý, chàng bấy giờ mới đặt mưu kế vào trong một túi gấm, giao cho bà ta. Từ trước tới giờ, hạ độc vốn không phải là diệu kế gì, nhưng lại là kế sách phù hợp với Khuynh Họa nhất. Tương Lý Khuyết bản tính đa nghi, do đó trước khi tiến hành bước cuối cùng, cần phải đi rất nhiều đường vòng. Mỗi chặng đường cần phải đi như thế nào, cần né tránh điều gì, có thể lôi kéo ai trong triều đình, có thể bắt đầu lôi kéo từ ai, có một số việc thành công rồi thì thế nào, không thành công thì ra sao, xếp lại thành một tệp giấy dày, chuẩn xác giống như que tính[4]. Tương Lý Khuyết mặc dù sủng ái Khuynh Họa, nhưng lại giam cầm bà ta giống như chim trong lồng, trước đây bà ta không hiểu nhiều về chuyện triều chính, chính chàng là người đã đưa bà ta bước vào con đường tranh giành quyền lực.

[4] Que tính: Theo sử sách ghi lại, que tính được làm từ tre, trúc, gỗ, ngà voi, xương động vật, kim loại… với độ dài ngắn to bé giống nhau, thông thường có độ dài từ 13-14cm, tộng từ 0,2-0,3cm, thường được bó khoảng hơn hai trăm bảy mươi que thành một bó, bó trong túi vải, đeo bên mình, khi cần sẽ mang ra tính toán.

Hai đêm trước ngày Tương Lý Khuyết băng hà, Khuynh Họa lại một lần nữa tới phủ. Trong phòng chế tác gương, chàng đang cầm bút vẽ khung gương để sai người làm một cái khuôn theo bản vẽ đó. Mặc dù là cô mẫu của chàng, Khuynh Họa lại vẫn kính trọng gọi chàng là đại nhân, bàn luận với chàng về tình hình gần đây của Tương Lý Khuyết, đồng thời hứa hẹn rằng sau khi sự thành sẽ lập tức đón chàng về Kỳ Nam cung. Chàng cầm bút, chăm chú nhìn vào trang giấy, nói: “Nếu việc này thành, ta muốn có A Lan Nhược”. Khuynh Họa bỗng ngẩng đầu lên. Chàng tỏ thái độ lạnh lùng: “Tất cả những thứ nàng ta bắt ta chịu đựng, ta đương nhiên phải ‘đáp trả’ cho nàng ta không thiếu một phân”. Chàng ngước mắt nhìn Khuynh Họa đang nhíu mày: “Hay là nàng ta chung quy vẫn là cốt nhục của Quân Hậu, Quân Hậu thấy thương xót?”. Khuynh Họa trầm mặc giây lát, nói: “Ngày sự thành, A Lan Nhược sẽ là của đại nhân”.

Chàng sẽ không lấy Quất Nặc, mà sức mạnh của Thần cung nếu đã không thuộc về Quất Nặc, Khuynh Họa cũng không để nó thuộc về A Lan Nhược. Muốn đưa nàng trở về thần cung an toàn, đây là cái cớ tốt nhất.

Nhưng cuộc đời này của chàng, sai lầm lớn nhất là đã đánh giá thấp Khuynh Họa.

Đêm mười sáu tháng bảy, Tương Lý Khuyết băng hà. Ngày mười chín tháng bảy, chàng được vội vã đón về thần cung, chủ trì đại tang cho Tương Lý Khuyết. Mà chưa qua ba ngày, lại có một thông tin được truyền vào thần cung, A Lan Nhược giết vua, đã bị bắt giam. Lúc đó, trên đại điện của thần cung, chiếc bình tế lễ màu đen trên tay chàng rơi xuống nền nhà, một tiếng “xoảng” giòn giã vang lên. Khuynh Họa không thực hiện lời hứa của bà ta. Bây giờ bà ta suy tính mọi chuyện chu toàn trên cả dự liệu của chàng.

Chàng có tình cảm thật sự hay giả dối với A Lan Nhược, Khuynh Họa sao có thể biết được. Chiêu này của bà ta, chẳng qua chỉ muốn đề phòng một ngày nào đó, ngộ nhỡ chàng nảy sinh chân tình với A Lan Nhược, sẽ giúp A Lan Nhược uy hiếp vương vị của Quất Nặc. Bà ta phải ép A Lan Nhược vào chỗ chết, bà ta chưa từng coi mình là mẫu thân của nàng. Sao chàng lại có thể không nghĩ tới điều này.

Sau khi A Lan Nhược bị bắt giam, chàng cũng bắt đầu bị giám sát một cách chặt chẽ.

Khuynh Họa đã tới thần cung một lần, nói rất dài trước mặt chàng, dường như xuất phát từ nỗi khổ tâm của một người mẹ: “Ngươi hận A Lan Nhược như vậy, bản cung thấy thế lại cảm thấy đau lòng, nó đã giam cầm ngươi gây ra một sai lầm lớn, nhưng chung quy vẫn là cốt nhục của bản cung, nếu nó phải chịu khổ trong một thời gian dài, bản cung không nỡ nhẫn tâm. Hãy nể mặt bản cung, dù nó đã phạm sai lầm tày đình, chết cũng không trả được hết mối hận cho ngươi sao? Nếu ngươi cho bản cung ân tình này, sau này có việc gì cần tới bản cung, chỉ cần nói một tiếng là được”. Mặc dù nói vậy, nhưng ánh mắt dò xét thần sắc chàng của bà ta lại khó che giấu được vẻ sắc bén.

Chàng nhíu mày, làm ra vẻ quả thực rất không hài lòng, một lát sau, mới chậm rãi nói: “Không biết Quân Hậu có biết một nữ tiên sinh tên là Văn Điềm ở trong tông học hay không, nếu cảm thấy việc này không phải với ta, Quân Hậu có thể nhận Văn Điềm làm nghĩa nữ được không? Khi ta sa cơ, nàng đối với ta không bạc, ta và nàng tâm đầu ý hợp, có ý muốn cưới nàng làm vợ”. Khuynh Họa chậm rãi nở một nụ cười: “Có gì mà không được chứ”. Trong nụ cười đó, cuối cùng đã có vài phần nhẹ nhõm.

Khuynh Họa cho phép Văn Điềm tới thần cung làm bạn với chàng, lần gặp gỡ này, khuôn mặt luôn trầm lặng của nữ tử lại không hề xuất hiện một nụ cười, lúc không có người, khinh bỉ nói với chàng: “Ta biết ngươi lấy ta là vì muốn báo ơn, ngươi có biết người có ơn lớn nhất với ngươi lại là nhị công chúa điện hạ không? Công chúa đối tốt với ngươi, ngay cả ta cũng nhận thấy, lần này điện hạ phải chịu hàm oan, ngươi lại khoanh tay ngồi nhìn. Quả thực ta đã từng thích ngươi, nhưng hôm nay mới phát hiện ra rằng, ngươi không xứng đáng với tình cảm của ta”.

Chàng không hề giải thích, những lúc như thế này, ngoài bản thân mình ra, chàng không tin bất kỳ người nào khác. Nếu những lời nói đó của Văn Điềm xuất phát từ tấm lòng, chàng rất khâm phục. Nếu là do Khuynh Họa lệnh cho nàng ta nói ra những lời đó để thăm dò chàng, chàng lại càng phải cẩn trọng.

Khuynh Họa cuối cùng cũng tin chàng, dần dần nới lỏng sự giám sát đối với chàng, đặc biệt là khi có Văn Điềm ở bên cạnh. Ngày hôm đó, chàng dẫn theo Văn Điềm đi lấy nước suối trời ở hậu sơn, kín đáo tách riêng ra, rồi đi tới động Thanh Y một chuyến. Động Thanh Y là nơi linh khí hội tụ mạnh mẽ nhất ở núi Kỳ Nam. Hai năm trở lại đây, Tức Trạch luôn bế quan trong động này.

Mũi tên mang theo một phong thư bay qua kết giới bên ngoài động, trong thư kể về việc A Lan Nhược bị bắt giam.

Năm xưa khi Tức Trạch bế quan, đã dẫn theo hai vị thần quan vào trong động để hộ pháp, chàng mặc dù tin tưởng Tức Trạch, nhưng không tin tưởng vào hai vị thần quan hộ pháp kia, do đó bức thư đã được viết theo bút tích của người khác. Lần này chỉ mong Tức Trạch có thể tận mắt đọc được bức thư này, ra khỏi động đi cứu A Lan Nhược.

Lúc cấp bách, càng cần phải bình tĩnh và suy nghĩ chu toàn. Nếu Tức Trạch cứu được A Lan Nhược ra ngoài, vài ba tháng sau, chàng sẽ lặng lẽ rời khỏi thần cung, trùng phùng với nàng. Nếu Tức Trạch không đọc được bức thư này, chỉ còn một cách duy nhất, đó là chuyển quyền hành án của nàng về thần cung. Lúc đó, mặc dù khả năng chàng giúp nàng bỏ trốn thành công chỉ còn một nửa, hoặc còn ít hơn, nhưng dù sao cũng còn một chút cơ hội.

Khuynh Họa đã dùng mưu với chàng như vậy, nếu có thể vượt qua kiếp nạn này, chàng sẽ không để Khuynh Họa được toại nguyện. Bà ta một lòng muốn A Lan Nhược phải chết, vậy thì cuối cùng sẽ có một ngày, chàng nhất định phải để nàng ngồi lên vị trí Thượng Quân.

Trong cõi trời đất bao la rộng lớn này, chàng chưa từng có người thân, A Lan Nhược cũng không còn người thân nữa, cho dù tất cả mọi người đều bày mưu tính kế hãm hại họ thì đã sao, bọn họ chỉ có nhau, có nhau là đã đủ rồi.

Ngày mùng một tháng tám, A Lan Nhược được cướp khỏi nhà lao. Đó cũng chính là ngày Tương Lý Hạ xuất quân ra trận, khi tin tức được truyền tới, chàng đang ở trên Linh Sơ đài chủ trì lễ chúc phúc cho đại quân xuất chinh. Mấy ngày gần đây quả thực có quá nhiều chuyện đi lệch quỹ đạo, may mà chuyện này cuối cùng đã đi đúng quỹ đạo, chàng đã không đặt nhầm niềm tin vào Tức Trạch. Nhưng sau khi A Lan Nhược được cứu thoát, chàng lại càng bị giám sát chặt chẽ hơn, Khuynh Họa cuối cùng vẫn có chút nghi ngờ chàng. Tuy nhiên, may mà nàng đã được bình an. Nàng bình an là tốt rồi.

Cuộc chiến với bộ tộc Dạ Kiêu thi thoảng cũng có tin từ chiến trường báo về, mặc dù chàng ở trong thần cung, nhưng cũng biết được chút ít. Nhưng trong số chút ít thông tin đó, lại không bao gồm thông tin người chủ soái trận đánh bên sông Tư Hành lúc bấy giờ đã là A Lan Nhược chứ không phải Tương Lý Hạ.

Ngày mùng sáu tháng tám, đại quân bị tộc Dạ Kiêu đẩy lùi về phía nam sông Tư Hành, tổn thất ba vạn quân lính.

Chàng đi dạo trong thần cung, thấy trong khu vườn phủ kín hoa tứ quý, có một vài quả rụng bị chim ăn, để lộ hạt màu nâu, chàng bèn thu những hạt giống đó lại.

Ngày mùng tám tháng tám, A Lan Nhược dùng Bán Nguyệt trận để ngăn chặn quân địch, bộ tộc Dạ Kiêu bị chặn phía ngoài sông, không thể tiến thêm được một bước.

Chàng phát quang được một mảnh đất trống trong vườn, gieo hạt giống lên mảnh đất trống đó, dùng nước suối trời pha một chút nước suối thường để tưới cây, ngày hôm sau, hạt giống đã này mầm thành một cây non xanh tốt.

Ngày mười bốn tháng tám, bộ tộc Dạ Kiêu công phá thành công Bán Nguyệt trận, A Lan Nhược sử dụng Chiêu Hồn trận, trên sông Tư Hành nghiệp hỏa cháy ngút trời.

Chàng vun xới thêm đất cho cây non, mấy ngày nay đám cây non đã mọc thành tán xanh biếc, một cây trong đó còn nở một đóa hoa nhỏ xinh xắn, chàng dùng pháp thuật lưu giữ cho hoa tươi mãi, nghĩ rằng đóa hoa này rất hợp với nàng.

Ngày mười bảy tháng tám, A Lan Nhược tử trận, hồn phách tan thành cát bụi, tan biến trong dòng sông Tư Hành.

Chàng đi đi lại lại trong vườn, hoa tứ quý đã nở kín cành, chàng lấy kéo cắt một vài cành hoa đẹp nhất, cũng muốn giữ lại những cành đó để sau này nàng có thể cầm chơi.

Theo lời đồn đại, Tương Lý Hạ tử trận, A Lan Nhược mang tội chết, Thường Đệ mà Tương Lý Khuyết sinh thời cưng chiều nhất, cũng nghe đồn rằng sau khi hay tin Tương Lý Khuyết qua đời, vì quá đau buồn nên đã phát điên. Một vương thất lớn như vậy, người kế vị lại chỉ còn một mình Quất Nặc. Ngày mười chín tháng tám, Quất Nặc đang bị lưu đày bên ngoài được đón về Vương đô kế vị. Ngày hai mươi tháng tám, Quất Nặc đích thân đến thần cung xin chàng làm lễ cầu phúc, sau khi tế lễ xong đã mời chàng tới hồ sen đi dạo.

Thiếu nữ đơn thuần, luôn giữ vẻ tôn nghiêm cao quý trước đây giờ trên gương mặt lại đầy ắp vẻ từng trải, đưa mắt ra xa nhìn mặt nước giữa hồ sen, hồi lâu mới nói: “Lưu đầy hai năm, tuy chịu một vài gian khổ, nhưng trong hai năm đó, muội dường như mới sống một cuộc sống thật sự, đã hiểu được về một vài người, cũng hiểu được vô số việc. Trong ba chị em muội, thực ra người được giáo dưỡng tốt nhất lại chính là A Lan Nhược, sau khi lớn lên, muội căm ghét muội ấy như vậy chẳng qua chỉ vì muội ấy đã sống một cách thoải mái, không gò ép, khiến muội rất ngưỡng mộ. Khi muội ấy mới được sinh ra, muội còn nhớ, muội đã rất thích muội ấy”. Chàng không biết nàng ta nói những lời đó là có ý gì, cũng không tiếp lời.

Một lát sau, Quất Nặc lại nói: “Có rất nhiều việc mẫu thân không nói rõ với muội, nhưng trong lòng muội thực ra đều hiểu rõ, nói A Lan Nhược giết vua, muội, muội cảm thấy đó không phải là sự thật”. Nàng quay đầu lại nhìn chàng: “Biểu ca, mẫu thân khiến muội cảm thấy có chút đáng sợ”.

Cả đời Khuynh Họa đều vì cô con gái lớn này, hổ dữ còn không ăn thịt con, bà ta lại sẵn sàng dùng máu thịt của những đứa con gái nhỏ để đúc lên vượng tọa của Quất Nặc. Cuối cùng, Quất Nặc lại không hề có nửa phần cảm kích, mà chỉ cảm thấy bà ta đáng sợ, đây chính là báo ứng.

Chàng lạnh lùng đáp lại một câu: “Thứ mà ngươi sợ không phải bà ta, mà chính là quyền lực trong tay bà ta. Giờ ngươi đã là Thượng Quân, mẫu thân của ngươi không nên can thiệp vào việc triều chính quá lâu”.

Ngày hai mươi hai tháng tám là một ngày đẹp trời, ánh nắng không quá gay gắt, thi thoảng có gió nhẹ. Kiểu thời tiết như thế này, thích hợp nhất cho việc đi thăm bạn bè thân hữu. Dường như đã đặc biệt lựa chọn từ trước, ngày hôm đó, Tức Trạch thần quân tới thần cung thăm chàng.

Lúc đó, chàng đang đọc sách trong vườn cây tứ quý, Tức Trạch đi qua nguyệt môn, bước thẳng tới trước mặt chàng, thần sắc có phần phờ phạc lạnh nhạt, bỏ qua màn chào hỏi, ngồi ngay xuống trước mặt chàng, nói: “Bên ngoài núi đã có biết bao biến động, ngươi ẩn thân ở đây, có vẻ rất an nhàn”.

Chàng ngẩng đầu khẽ liếc nhìn Tức Trạch một cái, tay lật giở một trang, lại nhìn vào trang sách: “Ta còn nhớ trước đây ngài thường nói, thần cung là nơi đứng ngoài thế sự, nếu đã như vậy, những thế sự đó có can hệ gì với thần cung chứ?”. Lại lật giở thêm một trang sách, nói: “A Lan Nhược nàng ấy…”.

Tức Trạch cau mày, ngắt lời: “Ta chưa từng biết đến chữ tình, đương nhiên không hiểu được ngươi và A Lan Nhược suy nghĩ thế nào. Nhưng ngươi đã hỏi câu này, có thể thấy trong lòng ngươi vẫn còn nhớ tới nàng, nếu đã như vậy, sao phải ép nàng tới bước ấy. Đương nhiên, chuyện của hai người, ta là người ngoài, không tiện nói điều gì, con đường ngươi lựa chọn, con đường nàng lựa chọn, chẳng qua đều là số mệnh của mỗi người”. Tức Trạch thở dài một tiếng, nói: “Hôm nay ta tới đây, chẳng qua cũng vì thực hiện một tâm nguyện của nàng, nghe nói ngươi còn giữ hai mươi phong thư của A Lan Nhược, trước khi ra đi, nàng đã nhờ ta lấy lại”.

Những câu nói của Tức Trạch giống như đã nói lên điều gì đó, lại giống như chẳng nói gì cả, duy chỉ mấy từ ‘trước khi ra đi’ lại như những cây kim dài đâm vào tai chàng, ngón tay chàng sững lại trên trang sách, chậm rãi nói: “Trước khi ra đi? Ngài đã cứu nàng, nhưng lại để nàng ra đi sao?”.

Tức Trạch sững người lại, dường như chưa hiểu rõ tại sao chàng lại hỏi vậy.

Một linh cảm chẳng lành tràn lên trong tim chàng, chàng bỗng nhiên đứng dậy, bước về phía cửa vườn: “Ngài đã tới đây rồi, chắc sẽ có cách giúp ta sớm rời khỏi nơi đây, cho dù nàng đã đi đâu, chúng ta lập tức xuống núi, vẫn còn có thể đuổi kịp nàng. Ngài không biết nàng thường hay có những suy nghĩ kỳ quặc, nếu để nàng một mình ở bên ngoài, ta không yên tâm…”. Chàng không phải là một người thích nói nhiều, lúc này lại dường như rất sợ bị người khác ngắt lời, rốt cuộc là đang lo sợ điều gì, bản thân chàng hiểu rõ. Chàng và A Lan Nhược, bọn họ chỉ có nhau, số mệnh còn có sai sót, nhưng tuyệt đối không thể để sai sót xảy ra vào lúc này, nếu như ngay cả bước đi này cũng sai sót, nếu như…

Tức Trạch lại dường như bỗng hiểu ra điều gì đó, nói sau lưng chàng: “Không ai nói cho ngươi biết sao, Trầm Diệp, A Lan Nhược đã ra chiến trường, thay…”. Nhưng đã bị chàng lớn tiếng cắt ngang: “Đừng nói nữa”.

Đừng nói nữa.

Như thể nếu Tức Trạch không nói ra, tất cả mọi việc theo ước nguyện của chàng vẫn có thể được như ý nguyện của chàng.

Trong vườn im lặng một cách chết chóc, chỉ có tiếng gió lạnh lật giở từng trang sách, phát ra vài tiếng sột soạt.

Bàn tay chàng chống lên cửa vườn, vầng trán lấm tấm mồ hôi, nhưng vẫn cố giữ một gương mặt bình thản, dường như khi giả vờ như vậy, thì nỗi sợ hãi sâu thẳm nhất trong lòng chàng, nỗi sợ hãi đủ để khiến chàng sụp đổ hoàn toàn sẽ không thể và cũng chưa từng xảy ra.

Nhưng Tức Trạch cuối cùng vẫn chậm rãi lên tiếng ngăn cản bước chân của chàng, nói: “A Lan Nhược, nàng ấy…”, dừng lại một chút: “Bức tấu biểu đó của ngươi, Khuynh Họa đã đưa cho nàng đọc rồi. Trước khi đi tới sông Tư Hành, nàng đã nói cuộc đời này của nàng có thể không hề có nhân duyên, ngươi là do nàng giành lấy, hai năm tình cảm sâu đậm với ngươi cho dù chỉ là hư ảo, nàng cũng chấp nhận, chỉ không ngờ rằng ngươi lại căm hận nàng như vậy, nàng dù có rộng lượng đến mấy thì cuối cùng cũng có phần không thể chịu đựng nổi”. Lại nói: “Nàng nói nàng sẽ quay trở về, ta không biết nàng đi tới sông Tư Hành vốn là muốn tìm tới cái chết”.

Những lời nói hết sức bình tĩnh nhưng chữ nào chữ nấy như một mũi dao sắc bén nhất cắm sâu vào tim chàng, chàng biết Tức Trạch không cố ý nhưng chàng lại muốn những lưỡi dao đó cắm sâu hơn, đau đớn hơn, bởi vì chỉ có như vậy mới khiến chàng cảm thấy bản thân mình còn đang sống, mới còn có hơi sức phản bác lại Tức Trạch: “A Lan Nhược, nàng không thể chết, những lời ngài nói, ta đều không tin”.

Tức Trạch đưa mắt quan sát chàng trong giây lát, khẽ nói: “Ngươi tin cũng được, mà không tin cũng chẳng sao”. Lại thở dài, nói: “Sau khi nàng chết, Khuynh Họa và Quất Nặc mới biết được chuyện này, bởi vì những chuyện có liên quan tới vương quyền, bọn họ che giấu quần thần, nhưng ta không hiểu sao bọn họ lại giấu không cho ngươi biết”.

Chàng không biết bản thân mình đã phát ra tiếng bằng cách nào: “Hãy nói cho ta biết, nàng ở đâu?”.

Tức Trạch im lặng hồi lâu, trong bầu không khí tĩnh lặng vô biên đó, dường như cuối cùng đã hiểu ra, vị thần quan trẻ tuổi trước mặt không muốn tin nhưng lại không thể tin, nhưng so với việc tin tưởng ở chàng, chàng ta còn muốn tin vào mắt mình hơn. Hồi lâu sau, Tức Trạch nói: “Nàng quyết liều mình đánh cược một phen, mở Chiêu Hồn trận, hung trận thời thượng cổ đã nuốt gọn hồn phách của nàng, hóa thành cát bụi tan biết trong dòng sông Tư Hành”.

Bóng dáng của chàng run rẩy, chân loạng choạng, nhưng bước chân lại càng gấp gáp hơn.

Ngày hôm đó, vị Thần Quan Trưởng đại nhân mà đám mật thám của vương cung tự cho rằng bọn họ đã trông chừng một cách nghiêm ngặt, hoàn toàn không có khả năng kháng cự lại bước ra khỏi thần cung bằng lối cửa chính ngay trước mắt bọn họ. Hành động này khiến bọn họ nổi giận, lần lượt hiện thân ngăn cản. Thần Quan Trưởng khuôn mặt tựa Tu La, một tay cầm kiếm, ánh kiếm lướt qua, đám mật thám kia lần lượt đầu lìa khỏi xác. Trong gần một trăm tên mật thám chỉ còn duy nhất một tên sống sót, đó là tên tiểu mật thám thường ngày phản ứng vô cùng chậm chạp, lúc này chưa kịp hiện thân. Đợi khi Thần Quan Trưởng đi xa rồi, tên tiểu mật thám mới gọi bồ câu đưa thư tới, buộc bức thư thông báo việc Thần Quan Trưởng đã rời thần cung vào chân chim bồ câu, chuyển cho mẹ con Khuynh Họa lúc này đang ở bên dòng sông Tư Hành. Hai mẹ con Khuynh Họa ở bên bờ sông Tư Hành là để cầu phúc cho các tướng sĩ đã tử trận theo tục lệ của bộ tộc Tỷ Dực Điểu.

Ngày hai mươi tháng tám, bên bờ sông Nam Tư Hành, một đài cao trăm trượng được dựng lên bên cạnh hài cốt của các tướng sĩ, mây lành được gọi tới điểm xuyết thêm cho đài cao, đội nghi thức cầu phúc của nữ vương được sắp xếp rất lớn. Mấy ngày đi vội vã, chàng cũng vừa hay kịp tới nơi đúng vào ngày hôm đó.

Dòng sông như một dải ngọc, ngoằn ngoèo uốn lượn quanh núi Bình Vận, trong ánh nắng sớm rực rỡ, rừng nhạc âm khẽ ngân vang. Suốt mấy ngày liền không ăn không ngủ vội vã đi gấp, hình ảnh của A Lan Nhược cứ lởn vởn trong đầu óc trống rỗng của chàng, hễ nhắm mắt lại, trong đầu lại đầy ắp hình ảnh của nàng, tươi mới sống động như vậy khiến chàng không thể tin được, chàng không phải là người có thể tự lừa dối bản thân mình. Mấy ngày hôm nay chàng như đi trên mây, suy nghĩ và đau khổ đều rời bỏ chàng, chàng phải đến sông Tư Hành, chàng đến tìm nàng, bởi vì nơi đây là câu trả lời nàng cho chàng, cũng sẽ là kết cục cuối cùng của chàng.

Chàng chưa từng nghĩ tới việc né tránh đội nghi thức của nữ vương, chàng chỉ đi dọc theo bờ sông, tưởng tượng rằng đó chính là đoạn đường mà nàng đã đi trước lúc lâm chung, đoạn đường cuối cùng trong cuộc đời nàng. Khi đi qua đoạn đường này, nàng đang nghĩ tới điều gì? Nàng vẫn còn hận chàng sao?

Đi tới phía cuối sông, đài cao nổi lên, cờ xí rợp trời, khuôn mặt của Khuynh Họa dưới lọng che màu tím lọt vào mắt chàng lại có vẻ hốt hoảng kinh sợ hiếm thấy, chàng không biết bộ dạng của chàng lúc đó có khiến người khác hoảng sợ hay không, chỉ biết rằng Khuynh Họa nghiêm mặt hạ lệnh gì đó, lập tức một trận mưa tên ào ạt bay về phía chàng, chàng vung kiếm theo bản năng, thanh kiếm dài đứng thẳng bên bờ sông, phát ra quầng kiếm khí chặn tên lại, nhưng mưa tên liên tiếp không ngừng, cuối cùng cũng đẩy chàng vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Một cơn gió bỗng thổi qua bên sông, dường như có ai đó tấu một khúc điếu ca trong rừng nhạc âm, hoa nhạc âm trắng lìa cành, xuyên qua trận mưa tên lạnh lẽo, bay tới rớt vào kiếm trận của chàng. Bông hoa nhạc âm nhỏ xinh đậu trên chuôi kiếm giống như một con bướm trắng tinh. Khi cánh bướm lay động, A Lan Nhược liền xuất hiện trước mặt chàng, mái tóc đen dài, xiêm áo đỏ, nàng khẽ nở một nụ cười, nhặt bông hoa trắng trên chuôi kiếm của chàng, đùa nghịch trên tay một lát rồi chậm rãi cài vào tóc, ngón tay khẽ vuốt nơi tóc mai rồi dừng lại. Trái tim chàng nhói đau, đưa tay ra muốn nắm lấy nàng, nhưng lại chỉ nắm được hư không. Đó chẳng qua chỉ là một chút hình bóng còn sót lại trong rừng nhạc âm mà thôi. Trong lúc tâm thần dao động, một mũi tên sắt đã xuyên qua kiếm khí hộ thân, đâm thẳng vào vai chàng, lực bắn mạnh khiến chàng loạng choạng lùi lại vài bước, máu tươi trào ra từ miệng nhuộm đỏ cả chuôi kiếm.

“Nghe nói Mạnh Xuân viện có khách mới đến, xin gửi thiệp tới bái chào”.

“Những lời ta nói có thể là thật, có thể là giả, có thể ta thật lòng thích huynh, có thể ta đã thật lòng đùa giỡn với huynh”.

“Huynh thật sự thích ta, Trầm Diệp”.

“Đôi khi muội cảm thấy không đủ, nhưng đôi khi lại cảm thấy huynh như vậy đã rất tốt rồi”.

Chàng để mất nàng nhiều lần như vậy, nhìn hình ảnh nàng dần tan biến ngay trước mắt mới lần đầu tiên hiểu rõ, mất mát rốt cuộc là như thế nào.

Người đó, ngươi sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy nàng nữa, không bao giờ còn được nghe nàng nói, không có cách nào để có thể chạm vào nàng nữa. Nàng thậm chí đã quả quyết từ bỏ cả luân hồi, cho dù còn bao nhiêu kiếp sau nữa, cho dù ngươi có biến thành ai cũng không thể gặp lại nàng được nữa.

Nàng đã không còn nữa, đã hoàn toàn rời xa ngươi rồi.

Nỗi đau khổ lớn lao từ trong sâu thẳm tâm hồn dần dần xé toạc chàng ra, lan tỏa từng chút từng chút một, là nỗi tuyệt vọng muộn màng, cả đời chàng chưa từng được nếm trải cảm giác tuyệt vọng. Nếu sớm biết như vậy, sự chịu đựng kìm nén đó của chàng là vì điều gì, nỗi lo ngại của chàng đối với thế tục là vì điều gì, chàng tồn tại là vì điều gì?

Trận cuồng phong kéo tới từ chân trời, ánh sáng ban ngày bỗng chốc bị mây đen che phủ, thanh kiếm dài chặn trận mưa tên bỗng phát ra một luồng huyền quang, những mũi tên bay tới gần đều bị luồng huyền quang thiêu đốt thành tro bụi. Luồng huyền quang sinh ra từ thân kiếm, dần dần lan rộng ra bên ngoài, giống như một lò lửa đáng sợ, những nơi nó đi qua, vạn vật đều trở thành cát bụi. Đây chính là sức mạnh có thể hủy diệt đất trời, chàng không biết bản thân mình có sức mạnh này từ bao giờ, chỉ là ý muốn vạn vật cùng bị hủy diệt một khi đã nảy sinh thì rất khó thu lại, chàng cũng không hề có ý định thu lại.

Trên đài cao, trong mắt Khuynh Họa và Quất Nặc đầy ắp sự kinh hoàng, nhìn bọn họ yếu ớt không thể chống cự lại như vậy, chàng vô cùng hài lòng. A Lan Nhược đã yên nghỉ tại đây, nơi này có núi non nước biếc, có hoa lá chim muông tôm cá, như vậy rất tốt, nàng đã không thể quay trở lại, vậy thì, đồng táng cùng nàng tại nơi đây chính là kết cục cuối cùng của chàng, cũng sẽ là kết cục cuối cùng của bọn họ.

Luồng huyền quang không lành đó lan qua dòng sông Tư Hành, dòng sông dài cuồn cuộn chảy lặng lẽ bốc hơi, chỉ còn một dòng sông toàn bùn đất, chỉ còn cách đài cao cầu phúc chỉ vài trượng, Quất Nặc đã ngất lịm, duy chỉ còn một mình Khuynh Họa vẫn gắng sức chống đỡ. Trong thời khắc nguy cấp, trong đám mây dày đặc bên đài cao bỗng xuất hiện một bóng người. Tức Trạch thần quân. Dù sao cũng là một đại kiếp diệt tộc, vị Thần Quan Trưởng tiền nhiệm vốn luôn tiêu dao cũng không thể bàng quan đứng nhìn.

Ống tay áo rộng của Thần Quan Trưởng tiền nhiệm áo trắng phấp phới tung bay, tiên khí trác việt nhưng thần sắc lại khó giấu được vẻ mệt mỏi, ngài ấy đã phải dồn toàn lực để khống chế sự lan tỏa của luồng huyền quang, nói với chàng: “Không phải là không còn cách nào cứu A Lan Nhược, nghe nói trên Cửu Trùng Thiên có một thánh vật gọi là đèn Kết Phách, có khả năng tái tạo hồn phách cho người phàm trần, đèn Kết Phách này mặc dù không thể dùng được cho địa tiên như chúng ta, nhưng vạn vật đều có quy luật của nó, theo quy luật của đèn Kết Phách, tạo ra một nơi để nuôi dưỡng linh hồn, tái tạo hồn phách cho A Lan Nhược có gì là không được chứ? Trầm Diệp, ngươi muốn ôm nỗi nuối tiếc đồng táng cùng nàng ở đây hay muốn gặp nàng?”.

Luồng huyền quang đang lan tỏa bỗng chốc dừng lại, khi lời nói của Tức Trạch lọt vào tai chàng, một chút thần trí của chàng đã trở lại, chàng nhìn vị thần quan áo trắng trước mặt, giọng nói khản đặc: “Ta phải làm như thế nào?”.

Tức Trạch hạ thấp giọng: “Ngươi có bằng lòng dùng hết tu vi của kiếp này để tạo ra một thế giới khác cho nàng không? Cho dù ban đầu nàng chỉ là một thân xác giả, cho tới khi ngươi đã bỏ ra đủ lòng kiên nhẫn, tái tạo hồn phách của nàng mới có thể khiến nàng hoàn toàn sống lại được. Ngươi có tình nguyện bỏ ra cả cuộc đời mình để thực hiện việc này không?”.

Chàng nhìn vị thần quan trước mặt, thần sắc vô cùng bình thản: “Ta đã đánh mất nàng, ngài nói xem, còn điều gì mà ta không thể bỏ ra được chứ?”.

0 bình luận
0

You may also like

Bình luận của bạn